CÔNG TY TNHH SINH HỌC


Hoàn toàn khác với ngành chăn  nuôi động vật trên cạn, ngành chăn nuôi động vật thuỷ sinh như tôm, cá, ếch, lươn, cua, ba ba,…đặc biệt quan tâm đến môi trường sống của loài thuỷ sinh.
Trong chăn nuôi động vật trên cạn, chất thải (phân, nước tiểu, thức ăn thừa…) được lấy đi định kỳ. Động vật trên cạn hô hấp bằng phổi, hưởng chung bầu không khí với con người vốn được quan tâm kỹ càng.
Các loài thuỷ sinh phải ăn, phải thở, phải sống ngay cái nơi mà chất thải của chúng được lưu giữ. Trong khi đó, sự quan tâm đến môi trường sống của chúng lại ít được quan tâm đúng mức.
Vài quan sát dưới đây cho thấy sự quan tâm đến môi trường chăn nuôi thuỷ sản là rất cần thiết:
- Cá chỉ dùng # 70-75% lượng thức ăn được cung cấp. 25-30% còn lại bị phân hủy, sình thối ngay trong nhà của cá. 300 tấn cá thu hoạch thì có chừng 450-500 tấn TA thảy xuống ao, trong đó có hơn 120 tấn thức ăn cần phân huỷ trong NHÀ của cá. Do đó việc dùng các sản phẩm CENZYMEMICROBOND giúp phân huỷ 120 tấn thức ăn thừa này là rất cần thiết để tạo môi trường trong lành cho cá, tôm.
- Nguồn kháng sinh dùng thiếu kiểm soát, nguồn kim loại nặng dư thừa chứa ngay trong thức ăn
- Nguồn kim loại nặng từ sản xuất công nghiệp vấy nhiễm vào nguồn nước sông, suối,…
- Tại đồng bằng sông Cửu Long, mùa nước về mang hàng vạn tấn phù sa hữu cơ, được lấy vào ao cá. Nước thượng nguồn cũng mang theo vô số ký sinh vật, vi khuẩn, virus, tảo độc,…
- Tại các vùng ven biển, thủy triều lên mang nước mặn vào vùng nuôi. Nước mặn cũng chứa nhiều loại ký sinh vật hệ nước mặn, tảo độc,…
- Nước mưa mang theo nhiều gốc acid từ môi trường không khí bị ô nhiễm nhiều nguồn khác nhau.
- Nước thải sinh hoạt của con người vấy nhiễm ra hệ thống sông rạch.
- Và cuối cùng, chất bài tiết của chính các thuỷ sinh vật cũng được cất giữ ngay trong “nhà” của chúng.
Chính các yếu tố ấy đã làm biến đổi môi trường sống của tôm, cá và các loài thuỷ sinh, gây nên các dịch bệnh, tổn thất trong chăn nuôi và thường xuyên nhất là làm giảm năng suất chăn nuôi nghiêm trọng. Do đó việc quan tâm và kiểm soát môi trường chăn nuôi thuỷ sản là yếu tố quyết định cho sức khoẻ tôm, cá và nâng cao năng suất. Đôi khi yếu tố này còn quan trọng hơn cả thức ăn bởi vì trên thực tế tôm, cá tiêu thụ một lượng khá lớn nguồn thức ăn là các phiêu sinh vật (động & thực vật) sống phù du trong nước. Nếu môi trường nước thích hợp thì lượng thức ăn nguồn phiêu sinh này sẽ phong phú và đóng vai trò quan trọng.
Trong khuôn khổ giới hạn cho những gì thiết thực và đơn giản mà người chăn nuôi có thể áp dụng cho loài thuỷ sinh được nuôi (tôm, cá, ếch,…nước ngọt, nước mặn, nước lợ,…) có thể phân thành 02 nhóm yếu tố chính là Các yếu tố lý-hóa và Các yếu tố sinh học

Các yếu tố lý-hóa
1. NHIỆT ĐỘ
Ngoại trừ một số loài cá đặc biệt sống ở các vùng ôn đới. Trong chăn nuôi thuỷ sản nước ta, nhiệt độ nước tối ưu cho các loài thuỷ sinh biến thiên từ 25 – 30 độ C. Khả năng chịu đựng biến thiên trong khoảng 18 – 39 độ C. Vượt quá ngưỡng chịu đựng cá có thể chết. Khi nhiệt độ nước cao hơn 37 độ C, một số chức năng biến dưỡng bị thay đổi khiến một số cá có fillet bị vàng.
Mức chịu đựng sự thay đổi đột ngột không được quá 3 độ C. Do đó trong những lúc giao mùa, thời tiết oi bức và chuyển mưa, một số tôm, cá không thích nghi kịp và bị “mất tăm”, nổi đầu, phồng mang hoặc có thể bị chết. Một vài nghiên cứu cho thấy sự thay đổi nhiệt độ nước (> 5 độ C) thường xuyên đã là suy giảm năng suất cá, tôm từ 5 – 25% và làm giảm khả năng sinh sản trên cá giống.

Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ nước
* Độ sâu của ao có ảnh hưởng đến nhiệt độ nước. Mực sâu phổ biến vào khoảng 1.3 – 1.7m. Tầng nước càng sâu nhiệt độ càng ổn định hơn tầng mặt.
* Thời tiết, mùa thả nuôi
* Sự luân chuyển của nước: Cá nuôi bè có nhiệt độ nước thấp hơn nuôi ao 2-3 độ C trong mùa nóng do bởi nước được lưu chuyển thường xuyên.
Vận dụng vào thực tế, nhà chăn nuôi có thể cân nhắc đến điều kiện khí hậu, mùa thả nuôi, sự luân chuyển nước của vùng nuôi mà quyết định độ sâu cho ao.

2. ĐỘ pH 
Cá, tôm và loài thuỷ sinh nói chung, tế bào của chúng phải tiếp xúc trực tiếp với nước. Do đó, sự thay đổi pH nước sẽ lập tức ảnh hưởng thay đổi tính thẩm thấu của màng tế bào các loài thuỷ sinh. Chính sự thay đổi tính thẩm thấu này dẫn đến sự rối loạn trao đổi chất, trao đổi muối-nước giữa cơ thể và môi trường. pH nước quá cao (kiềm) hay quá thấp (acid) đều đưa đến tình trạng nguy hiểm nghiêm trọng cho hoạt động sống của cá-tôm và ở mức độ nhẹ hơn, tất nhiên làm giảm năng suất chăn nuôi.
pH thích hợp trong chăn nuôi tôm-cá vào khoảng 5.5 – 6.8. Người chăn nuôi rất nên trang bị dụng cụ đo pH nước và thường xuyên kiểm tra ao nuôi nhằm tránh các tổn thất kinh tế nghiêm trọng.           

Các yếu tố ảnh hưởng đến pH của nước ao.
* Đất ao và Quá trình cải tạo đáy ao. Yếu tố này mang tính thổ nhưỡng. Sự can thiệp mang tính đối phó. Tuy nhiên khi cải tạo đáy ao, do không kiểm soát lượng vôi bón cho đất, đã vô tình làm cho pH ao trở nên quá kiềm. Cách tốt nhất là tăng lượng vôi bón đáy một cách dần dần cho đến khi đạt mức pH thích hợp.
* Mật độ tảo: Trong quá trình nuôi, khi không được kiểm soát, lượng tảo phát triển quá mức có thể làm cho pH tăng cao, đồng thời lượng Oxygen hoà tan cũng giảm đáng kể. Hiện tượng này khá là nghiêm trọng trong chăn nuôi tôm và cần thiết cắt tảo bớt để tạo thế quân bình trong môi trường sống của tôm, cá.
* Tần suất thay nước: Nước bị tù dễ sản sinh các khí độc NH, NH,…và còn làm tăng pH nước.
* Các xử lý hóa chất, chất sinh học trong quá trình nuôi cũng là tác nhân quan trọng làm thay đổi pH nước ao. Do đó, cần hiểu rõ đặc tính sản phẩm trước khi dùng. Ngoài ra việc quan sát pH nước thường xuyên cũng giúp phát hiện những bất thường trong chăn nuôi. Một số sản phẩm chứa vi sinh vật có lợi có thể song hành với tính năng ổn định pH rất nên sử dụng và thu lợi kép.

3. MỨC OXY HOÀ TAN (DO = Disvolved Oxygen
Mức Oxy hoà tan là chỉ tiêu quan trọng nhất cho sự tồn sinh và kể cả năng suất của tôm-cá. Loài thuỷ sinh lấy dưỡng khí qua lượng Oxy hoà tan trong nước.
Mức oxy hoà tan thích hợp cho cá biến động từ 4.0 – 7.0mg/L. Khả năng chịu đựng tình trạng thiếu oxy thì khác nhau gữa các loài. Cá tra chịu được ở mức 2.0mg/L nhưng cá Basa thì có thể chịu đến mức thấp hơn 1.1mg/L. Tuy nhiên việc cung cấp đủ ôxy vẫn tốt hơn là tình trạng quá dư và quá thiếu.
Khi Oxy hoà tan quá cao (khoảng > 15mg/L), thường gặp khi mật độ tảo sinh nhiều, tạo nhiều nơi trốn lánh cho các vi sinh vật gây bệnh. Một khi tảo quá nhiều thì chính chúng lại là tác nhân gây hại cá, tôm vào ban đêm, do thải quá nhiều CO2. Khi này, việc cắt tảo là cần thiết.
Ngược lại khi Oxy hoà tan quá thấp, tôm, cá sẽ thiếu dưỡng khí, bị nổi đầu, đớp không khí. Khi sự thiếu hụt nghiêm trọng có thể đưa đến tử vong. Mức oxy hoà tan thấp và kéo dài sẽ khiến fillet cá bị vàng. Tình huống này cần được sục khí nhiều hơn và diệt bớt tảo.
Quan sát tình trạng của cá, tôm sẽ phản ánh tình trạng oxy đủ hay thiếu. Ngày nay các thiết bị đo oxy hoà tan cho kết quả nhanh chóng ngay tạo ao nuôi.  

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức Oxy hoà tan 
* Nhiệt độ cao và ánh nắng gay gắt thường làm giảm mức oxy hoà tan.
* Các trận mưa ngắn, tạo chênh lệch nhiệt độ nước bề mặt thấp hơn nước tầng đáy khiến các chất khí độc như H2S, NH3, NO2, CH4 từ đáy được đưa lên bề mặt.
* Trước các cơn mưa dông, áp suất không khí bề mặt giảm cũng làm giảm oxy hoà tan và tăng các khí độc từ đáy ao.
* Việc bón quá nhiều các chất hữu cơ cũng làm giảm lượng oxy hoà tan cho ao. Trường hợp này cần hút bớt bùn đáy, sục khí, thêm nước sạch,…
* Mật độ thả tôm, cá quá dày cũng làm thiếu dưỡng khi cho tôm do lượng oxy được dùng nhiều mà lượng hoà tan ít. Trong tình huống này việc sục khí là cần thiết.

4. CÁC KHÍ ĐỘC KHÁC
Khí Metan (CH4), AMMONIA  (NH3)  và AMMONIUM (NH4+) là các khí độc thường gặp do sự tích tụ ở đáy ao và phóng thích vào môi trường nước khi gặp điều kiện thích hợp.   
Mức cho phép và an toàn thường nhỏ hơn 0.02mg/L.
Khi NH3 cao             => Cá khó bài tiết NH3 nội sinh ra môi trường. Điều này làm tăng pH máu của cá và ca chết do không trao đổi muối giữa cơ thể và môi trường được. Ngoài ra, khi NH3 cao còn làm tăng tiêu thụ oxy mô bào, giảm khả năng vận chuyển máu.
Biểu hiện bên ngoài là sự tổn thương mang (bị bầm đen). NH3 cao còn làm fillet bị vàng, giảm giá trị. 
Xử lý trường hợp này bằng biện pháp tổng hợp, bao gồm: dọn đáy ao, loại bỏ mùn rác, giảm thức ăn, bổ sung Cenzyme và Microbond trong thức ăn. Thêm nước sạch vào ao.

CÁC CHẤT VÔ CƠ KHÁC (kim loại nặng, chất vô cơ độc hại) như Lân hòa tan (PO43- ), Hydrogen sulfide (H2S), Cặn hữu cơ và các Kim loại nặng: Pb, Hg, As, Fe, Zn,…là các tác nhân ảnh hưởng không tốt đến môi trường nước ao nuôi.
Độ mặn của nước: mức 7-10ppt (#0.7 – 1%) là thích hợp cho nuôi cá.
Tài liệu tham khảo: best practice environmental management guidelines for aquaculture.
 
Các yếu tố sinh học
CÁ DỮ - CÁ TẠP: Tuỳ theo loài nuôi mà quyết định loại trừ sự cạnh tranh cho chúng. Các loại thuốc diệt cá tạp cần dùng với sự cẩn trọng. Chủ yếu nên tập trung vào việc dọn ao bằng biện pháp cơ học.

CÁC VI SINH VẬT CÓ LỢI: Bao gồm các động thực vật dùng làm thức ăn cho cá, tôm. Các loài Artemia, trùng chỉ, trùng huyết, tảo lục,…và các probiotic bổ sung trong thức ăn,…)

CÁC VI SINH VẬT CÓ HẠI: Bao gồm các loại tảo lam, tảo giáp,…virus, vi trùng, ký sinh trùng,….Một số trong chúng có thể gây bệnh nghiêm trọng cho người. Cần đặc biệt chú ý các loài ký sinh vật.
Cách xử lý bao gồm việc Xử lý trước khi thả bằng KMnO4 , CuSO4 , Ca(OH)2 , phơi ao v.v,….
 
MẬT ĐỘ THẢ
Dù không là một yếu tố môi trường nhưng mật độ thả (cá/tôm) lại ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành môi trường và quyết định rất nhiều vào năng suất chăn nuôi.
Thả mật độ nào tuỳ thuộc vào tập quán, khí hậu vùng nuôi, điều kiện trang bị chăn nuôi và các can thiệp của con người vào quá trình chăn nuôi.

Mật độ nuôi dày:
* Tỉ lệ chết cao (cao hơn 10-25% vs thả phù hợp)
* Ao mau ô nhiễm
* Năng suất thấp (thấp hơn 20-35% trên cùng d/tích ao vs thả phù hợp)

Mật độ nuôi thưa:
** Tỉ lệ chết thấp
** Rong tảo phát triển nhiều, pH tăng cao
** Năng suất có thể bị ảnh hưởng do lãng phí ao.

27/07/2018